Dị Tật Hậu Môn Trực Tràng

I.

Bạn đang xem: Dị tật hậu môn trực tràng

Đại cươngDị tật hậu môn trực tràng (DTHMTT) là dị tật không có lỗ hậu môn, có hoặc không có đường rò từ ống hậu môn trực tràng ra tầng sinh môn hoặc đường tiết niệu, cơ quan sinh dục.Lịch sử: Bệnh được ghi nhận từ 1600 trước Công nguyên. Từ đó đến nay đã có nhiều phân loại bệnh và phương pháp phẫu thuật khác nhau ra đời.II. Một số yếu tố liên quan về giải phẫu1. Phía trướcPhần có phúc mạc phủ, trực tràng liên quan mặt sau bàng quang, ống dẫn tinh (con trai), tử cung (con gái)Phần không có phúc mạc che phủ, trực tràng liên quan với phần sau dưới bàng quang, cổ bàng quang, cân tiền liệt – trực tràng, ống dẫn tinh, túi tinh, niệu đạo, tiền liệt tuyến hoặc cân âm đạo – trực tràng, thành sau âm đạo ở con gái.2. Phía sauTrực tràng liên quan lớp cân Waldeyer (cân che phủ thành tiểu khung vùng mặt trước xương cùng, xương cụt.3. Mặt bênTrực tràng liên quan bó mạch chậu trong, với niệu quản, thần kinh bịt (phần có phúc mạc che phủ), với động mạch trực tràng giữa, cơ nâng hậu môn, cơ thắt ngoài hậu môn (phần dưới phúc mạc)III. Các yếu tố tham gia kiểm soát đại tiện1. Trực tràng2. Cơ thắt trong hậu môn3. Cơ thắt ngoài hậu môn4. Thần kinh: hệ cảm giác ở vùng hậu môn trực tràng, hệ vận động ở cơ thắt ngoài và thắt trong hậu môn

IV. Vài nét về bào thai họcKhi bào thai được 4mm, ống niệu nang và ruột tận đổ vào ổ nhớp mà ổ nhớp lúc này được đóng kín bởi một màng. Khi bào nang được 8mm, ống niệu nang và ruột tận được tách nhau bởi vách niệu – trực tràng. Sau khi thủng màng hậu môn, củ hậu môn và trực tràng được hình thành. Các phần trên tiếp tục phát triển quanh hậu môn nguyên thủy để hình thành cơ thắt ngoài, tầng sinh môn. Sự rối loạn ở một giai đoạn phát triển nào đó sẽ tạo ra DTHMTT

V. Phân loại☻ Phân loại của Ladd và Gross (1993): chia DTHMTT làm 4 loại:– Loại 1: Hẹp hậu môn và hẹp hậu môn màng.– Loại 2: Hậu môn màng– Loại 3: Hậu môn bị bịt kín, rò trực tràng vào âm đạo hoặc niệu đạo, tầng sinh môn.– Loại 4: Teo trực tràng, còn ống hậu mônPhân loại này đơn giản, dễ áp dụng nhưng không bao gồm hết các loại DTHMTT, không có tác dụng hướng dẫn điều trị.☻ Phân loại quốc tế ở Wingspred (1986) đã nêu được đủ các thể bệnh và có chỉ dẫn cho chỉ định và lựa chọn kỹ thuật mổ. Phân loại này chia 4 loại cao, thấp, trung gian, loại hiếm gặp.

Thể loại Trẻ trai Trẻ gáiLoại cao:– Teo HMTT, có rò trực tràng với: Niệu đạo TLT Âm đạo+ Teo HMTT không rò+ Teo trực tràng, vẫn còn ống hậu môn

Loại trung gian:– Teo hậu môn, rò trực tràng với: Niệu đạo hành ÂĐ thấp, tiền đình+ Teo hậu môn không rò

Loại thấp:– Hậu môn nắp– Hẹp hậu môn

Loại hiếm gặp Còn ổ nhớp

☻ Về phân loại còn ổ nhớpPhân loại của Mollard:– Loại 1(A): Niệu đạo, âm đạo, trực tràng cùng đổ vào 1 vị trí của ổ nhớp.– Loại 2 (B): Trực tràng đổ vào âm đạo ở vị trí cao hơn so với niệu đạo hay trực tràng đổ vào xoang niệu dục. Thể này ít gặp.– Loại 3 (C): Ổ nhớp không hoàn toàn.+ Âm đạo teo ở vị trí cao, không đổ vào ổ nhớp mà chỉ có trực tràng với niệu đạo đổ chung một ống gọi là ổ nhớp+ Trực tràng teo cao, không đổ vào xoang niệu dục.

*

*

*

VI.

Xem thêm: Cách Sử Dụng Giới Từ To Trong Tiếng Anh, Attention Required!

Lâm sàng và chẩn đoán1. Khám lâm sàngNhìn bụng có chướng không? Xem vùng hậu môn có lỗ hậu môn không và vị trí?+ Có hậu môn bình thường: Bệnh nhân có hậu môn bình thường cả về hình dáng và kích thước, kèm theo biểu hiện của 1 hội chứng tắc ruột thấp: nôn ra dịch xanh, bụng chướng, không ỉa phân su. Thăm hậu môn, trực tràng bằng ống thông hoặc ngón tay út; xác định được teo trực tràng nếu ống hậu môn kết thúc bằng 1 túi cùng tịt; hậu môn màng nếu ống hậu môn bị bịt kín bởi màng mỏng căng phồng lên mỗi khi khóc, có thể nhìn thấy màu xanh của phân su; hoặc hẹp hậu môn trực tràng nếu phía ngoài lỗ hậu môn bình thường, phía trong nhỏ hẹp, bệnh nhân vẫn ỉa phân su. Cần chụp đại tràng – trực tràng có cản quang để xác định.+ Không có hậu môn hoặc hậu môn ở vị trí bất thường• Ở con trai:– Có lỗ rò ở tầng sinh môn (TSM): Dị tật hậu môn TSM trước: lỗ rò có kích thước lớn gần bằng hậu môn bình thường nhưng đổ ra trước vị trí bình thường của hậu môn. Lỗ rò bé là hậu môn nắp không hoàn toàn. Những lỗ rò nhỏ có thể bị bịt bởi phân su nhưng từ vị trí lỗ rò đến vết tích hậu môn thường được che phủ bởi 1 màng trắng bóng, phía dưới thấy màu đen phân su.– Không có lỗ rò ở TSM:+ Đái ra phân su là rò trực tràng – bàng quang hoặc rò trực tràng – niệu đạo. Có thể có dị tật teo HM, rò trực tràng – hành niệu đạo (loại trung gian) hoặc teo HM –TT, rò trực tràng – niệu đạo sau hoặc rò trực tràng bàng quang (loại cao). Nếu lỗ rò bé bị phân su làm bít tắc có thể không đái ra phân su.+ Không đái ra phân su là dị tật HM nắp hoàn toàn (loại thấp), teo HM không có rò (loại trung gian), teo HM – TT không có rò (loại cao)Chú ý: khi khám TSM: vết tích HM rõ, lõm sâu hoặc căng phồng khi khóc là loại thấp. Vết tích HM phẳng hoặc không thay đổi khi khóc là loại cao.• Con gái:– TSM chỉ có 1 lỗ duy nhất, qua đó có nước tiểu và phân su thoát ra, không có lỗ âm đạo là dị tật còn ổ nhớp.– Trẻ có lỗ âm đạo, niệu đạo riêng, phân su rò ra từ âm đạo, phía trong màng trinh là teo HM, rò trực tràng – âm đạo thấp hoặc teo HM, rò trực tràng – âm đạo cao.– Lỗ rò ở vị trí gặp nhau của 2 môi sinh dục bé, ngoài màng trinh là teo HM, rò trực tràng tiền đình.– Lỗ rò ở vị trí gặp nhau của 2 môi sinh dục lớn là rò HM – âm hộ. Lỗ rò có kích thước tương đương kích thước lỗ HM là HM – âm hộ.Trong các trường hợp rò trực tràng tiền đình, rò hậu môn – âm hộ, cần chụp bóng trực tràng có bơm thuốc cản quang qua sonde đặt vào lõ rò.– Lỗ rò ở TSM dưới vị trí âm hộ là HM nắp không hoàn toàn (lỗ rò bé) hoặc HM – TSM trước (lỗ rò lớn)2. Cận lâm sàng:– Chụp bụng không chuẩn bị tư thế nghiêng, đầu dốc ngược, gối gấp, mông nhô cao, có đánh dấu miếng kim loại vào vết tích hậu môn. Thường chụp cho trẻ sau đẻ 6 -12h. Nếu bóng trực tràng không giãn hoặc ở cao, cần chụp lại phim sau 6h. Nhược điểm: trẻ có thể nôn, bị trào ngược đường hô hấp, và có thể không đánh giá chính xác thể bệnh– Chụp bụng nghiêng tư thế đầu thấp: trẻ nằm sấp, mông cao, đầu thấp từ 3-5’, háng gấp, đánh dấu vết tích HM bằng miếng kim loại. Nên chụp sau đẻ khoảng 20h (theo pena) là khoảng thời gian cần đủ để hơi nuốt vào di chuyển xuống đáy của túi cùng trực tràng, do đó đánh giá chính xác thể bệnh.– Chụp bụng có thuốc cản quang vào bóng trực tràng qua chọc dò ở vết tích HM– Chụp túi cùng trực tràng qua đường rò: nếu rò trực tràng ra tầng sinh môn, âm hộ, tiền đình: luồn ống thông qua đường rò, bơm thuốc cản quang, chụp.● Xác định thể bệnh dựa phim chụp:+ Theo Kelly và Stephens: Nếu túi cùng trực tràng ở trên đường PC (đường mu – cụt: nối điểm giữa xương mu với đỉnh xương cụt) là dị tật cao. Nếu túi cùng ở dưới đường IC (đường nối giữa điểm thấp nhất của xương chậu với đỉnh xương cụt) là dị tật thể thấp. Nếu túi cùng trực tràng nằm trong tam giác PCI là loại trung gian.– Siêu âm: đo khoảng cách từ vết tích HM tới túi cùng trực tràng: nếu khoảng cách > 2cm là dị tật trung gian hoặc cao, 3. Chẩn đoán các dị dạng phối hợp:– Dị dạng đường tiết niệu: DTHMTT có thể phối hợp lỗ đái lệch thấp, luồng trào ngược bàng quang – niệu quản, phình niệu quản… DTHMTT loại cao có tỉ lệ phối hợp cao hơn. Cần chụp UIV, chụp bàng quang khi đái, siêu âm hệ tiết niệu để chẩn đoán.– Dị tật đường tiêu hóa: DTHMTT có thể phối hợp teo thực quản, teo ruột non, dị dạng quay ruột, dị dạng vô hạch đại tràng. Loại trừ teo thực quản bằng cách đặt sonde dạ dày, theo dõi dưới màn huỳnh quang.– Dị tật tim mạch– Dị tật khác: down, dị tật xương cùng…Bệnh nhân bất sản xương cùng – cụt thường rối loạn chức năng đại tiểu tiện.Nguồn : medscape.com